WEBVTT
X-TIMESTAMP-MAP=LOCAL:00:00:00.000,MPEGTS:0

00:03.960 --> 00:08.800
CHƯƠNG 28
<b>GABRIELLE CHANEL VÀ ĐIỆN ẢNH</b>

00:09.397 --> 00:11.285
<b>ĐÈN, MÁY QUAY, DIỄN!</b>

00:11.406 --> 00:14.851
Gabrielle Chanel được sinh ra
như chính sự ra đời và tồn tại của điện ảnh.

00:15.104 --> 00:18.367
Vận dụng tối ưu các chuyển động,
điện ảnh đã cách mạng hóa hình ảnh,

00:18.488 --> 00:21.335
giống như cô đã cách mạng hóa
vẻ đẹp quyến rũ của người phụ nữ.

00:21.654 --> 00:22.563
<b>DANH ĐỀ</b>

00:22.684 --> 00:26.446
Phần lớn thời gian, Coco Chanel là một nhà kiến tạo phong cách
nhưng đôi khi cô còn là một nhà thiết kế trang phục.

00:26.567 --> 00:29.461
Cô làm đẹp cho những người phụ nữ trên khắp thế giới
và cả những cô hầu gái trong tác phẩm điện ảnh của đạo diễn kiêm diễn viên Renoir

00:29.582 --> 00:30.164
<i>The Rules of the Game</i>.

00:30.285 --> 00:32.577
Chính cô đã gợi ý với đạo diễn Carné
về chi tiết áo mưa và mũ nồi

00:32.698 --> 00:35.171
cho nhân vật Michelle Morgan
trong <i>Port of Shadows</i>.

00:36.416 --> 00:37.834
<b>GÓC QUAY ĐẬM CHẤT MỸ</b>

00:37.981 --> 00:40.910
Nhà sản xuất của MGM, Samuel Goldwyn
trải thảm đỏ mời Chanel với mong muốn

00:41.031 --> 00:42.847
mang đến cho các ngôi sao của mình một diện mạo tươi mới.

00:42.968 --> 00:46.074
Greta Garbo, Marlene Dietrich
và Gloria Swanson

00:46.202 --> 00:47.760
đón tiếp cô như vị khách quý từ hoàng gia.

00:47.881 --> 00:50.559
Nhưng Coco đã từ chối gieo mình
vào vòng xoáy mê hoặc của Hollywood.

00:50.680 --> 00:53.236
Cô đáp lại vỏn vẹn rằng “Cắt!”
 rồi trở về Rue Cambon.

00:54.198 --> 00:55.293
<b>LÀN SÓNG MỚI</b>

00:55.414 --> 00:56.820
Bước vào tuổi bảy mươi,

00:56.941 --> 00:59.510
Coco trở thành thần tượng
đối với những người hâm mộ nền điện ảnh Pháp mới nổi,

00:59.631 --> 01:02.257
những người bị hớp hồn
trước vẻ đẹp hiện đại trường tồn qua năm tháng của cô.

01:02.378 --> 01:05.134
Jeanne Moreau đã đưa
những trang phục CHANEL vào tủ đồ của mình

01:05.255 --> 01:07.188
trong tác phẩm của đạo diễn Vadim <i>Dangerous Liaisons</i>.

01:07.309 --> 01:09.639
Đạo diễn Truffaut cho phép Delphine Seyrig
lựa chọn những sáng tạo

01:09.760 --> 01:11.659
từ Rue Cambon cho bộ phim <i>Stolen Kisses</i>.

01:11.780 --> 01:14.261
“Tìm cho tôi đôi xăng đan như thế này…”

01:14.382 --> 01:16.044
“…nhưng phần mũi bằng satin màu đen.”

01:16.437 --> 01:20.486
Nữ diễn viên cũng mặc trang phục Chanel
cho tác phẩm <i>Last Year in Marienbad</i> của đạo diễn Resnais.

01:20.607 --> 01:23.397
Chiếc đầm chiffons đen nổi tiếng của cô
đã trở thành một huyền thoại của nền điện ảnh.

01:24.151 --> 01:25.151
<b>PHÍA SAU ỐNG KÍNH</b>

01:25.272 --> 01:27.436
Vai trò yêu thích của cô
là một cố vấn.

01:27.594 --> 01:31.866
Gabrielle đã giới thiệu các tài năng như Visconti với đạo diễn Renoir,
và Zeffirelli với đạo diễn Vadim.

01:31.987 --> 01:35.098
Cô là người đầu tiên phát hiện ra năng khiếu
của chàng trai trẻ Robert Bresson,

01:35.219 --> 01:36.687
hạt giống tương lai của nền điện ảnh lúc bấy giờ,

01:36.808 --> 01:39.200
ngỏ lời mời anh ta chụp
bộ sưu tập Diamond Jewel của cô

01:39.321 --> 01:40.459
với một tầm nhìn hoàn toàn mới.

01:40.580 --> 01:42.047
Cô hiểu rõ những nữ diễn viên

01:42.168 --> 01:44.872
chính là những đại sứ tuyệt vời
 cho các sáng tạo của mình:

01:44.997 --> 01:49.105
Jeanne Moreau, Romy Schneider,
Elizabeth Taylor, và Jane Fonda.

01:50.291 --> 01:51.389
<b>MỘT TRANG ĐỜI</b>

01:51.510 --> 01:54.112
Gabrielle Chanel đã viết,
dàn dựng, biên tập,

01:54.278 --> 01:56.849
và sáng tạo nên cuộc đời mình
như thể đó là một bộ phim.

01:57.000 --> 01:59.953
Và đó, câu chuyện của cô lần lượt
trở thành những thước phim đầy cảm hứng cho tất cả mọi người.

02:01.178 --> 02:02.579
<b>SẼ CÒN TIẾP DIỄN...</b>

02:02.894 --> 02:05.418
Giống như Marilyn,
các ngôi sao điện ảnh vĩ đại nhất thế giới

02:05.539 --> 02:08.096
sẽ luôn trân trọng các giá trị của CHANEL

02:08.224 --> 02:12.229
Và hình bóng của Gabrielle Chanel
sẽ để lại những dấu ấn trong phim,

02:12.350 --> 02:14.048
cũng như trong suốt lịch sử nền điện ảnh,

02:14.169 --> 02:16.860
mà không bao giờ:
“Kết thúc"

